tại sao việt nam luôn bị xâm lược

#psmhTại Sao Người ASEAN nói Việt Nam "Xâm Lược" Campuchia ?Fan page của kênh : ý: PSMH không sở hữu tất Tại sao Nhật Bản xâm lược Đông Nam Á? 2015-08-27 14:31:10 cri Ngày 7/12/1941, quân Nhật đã bất ngờ tấn công Hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng, phát động cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, và không đầy nửa năm chúng đã chiếm đóng khu vực Đông Nam Á. Vì sao nước Nhật ít bị xâm lược nhất trên thế giới Lý do vì sao nước Nhật ít bị xâm lược nhất trên thế giới thì theo nhận định của Mira. VP Việt Nam: 83/4 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 21, quận Bình Thạnh; Điện thoại: 0922 961 033; Vay Tiền Online Banktop. Ngày 28/09/2019, trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, ngoại trưởng Việt Nam đã lên tiếng cảnh báo về tình hình căng thẳng tại Biển Đông. Mặc dù Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm lược với hành động cho tàu công vụ của họ vào hoạt động sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gần Bãi Tư Chính Biển Đông, diễn văn của ngoại trưởng Việt Nam không hề nói đến Trung Quốc, cũng không nhắc một cách cụ thể đến Bãi Tư Chính và các hành vi phi pháp cụ thể của Trung Quốc. Những hành động xâm lấn của Trung Quốc ngay trong vùng thềm lục địa của Việt Nam ở Biển Đông trong ba tháng đã được gợi lên trong nhóm từ những diễn biến phức tạp tại Biển Đông, trong đó có những vụ vi phạm chủ quyền và quyền tài phán tại vùng biển của Việt Nam », còn thủ phạm thì được gọi là các bên liên quan ».Lời lẽ tại Liên Hiệp Quốc của Việt Nam khác xa với tuyên bố ngày 12/09 vừa qua của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam, đã nêu đích danh Trung Quốc để kiên quyết phản đối việc nhóm tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc tiếp tục hành động vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trên vùng biển của mình,được xác định phù hợp với các quy định của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 UNCLOS 1982. »Tuyên bố rất ngoại giao » của ngoại trưởng Việt Nam đã không đáp ứng mong đợi của nhiều chuyên gia ở trong nước cũng như ngoài nước, cho rằng Việt Nam cần phải mạnh dạn nêu bật các hành vi xâm lược của Trung Quốc ra trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc, nhất là khi Bắc Kinh đã công khai tố cáo ngược lại rằng chính Việt Nam mới là bên đã vi phạm vùng biển của Trung Quốc và đòi phía Việt Nam phải đình chỉ toàn bộ các hoạt động dầu khí tại khu vực Bãi Tư nhiên, trong một bài phân tích đăng ngày 24/09/2019 trên trang mạng của cơ quan Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải AMTI thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế CSIS tại Washington, bà Phạm Ngọc Minh Trang, giảng viên Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, hiện thỉnh giảng tại Trường Luật Đại Học New York, đã nêu bật một số yếu tố khiến cho việc vạch mặt chỉ tên Trung Quốc trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc không có lợi cho Việt họp của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc là thời cơ lý tưởng, nhưng…Mở đầu bài phân tích, tác giả xác nhận rằng hiện có ý kiến cho rằng Việt Nam nên mạnh dạn phơi bày các hành vi bắt nạt » của Trung Quốc ở Biển Đông ra trước mắt cộng đồng quốc tế. Khóa họp của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc là thời cơ lý nguyên tắc Đại Hội Đồng và Hội Đồng Bảo An là các định chế quan trọng nhất Liên Hiệp Quốc. Các quốc gia thành viên thường đưa ra các vấn đề về hòa bình và an ninh quốc tế ra trước Đại Hội Đồng thay vì Hội Đồng Bảo An, vì lẽ ở đó các quyết định không bị vướng phải quyền phủ quyết của một trong năm thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An là Anh, Mỹ, Pháp, Nga và Trung nghị quyết được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua có thể mang lại những hậu quả chính trị và pháp lý nhất định mà nhiều quốc gia hy vọng có thể giúp giải quyết xung mạnh của Đại Hội Đồng nằm ở chỗ định chế này bao gồm tất cả các quốc gia thành viên, và mọi quốc gia đều có một phiếu bầu bình đẳng với nhau. Một nghị quyết được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua được cho là phản ánh quan điểm của cộng đồng quốc tế, và các quốc gia thường tìm kiếm một nghị quyết như vậy tạo tính chính đáng cho hành động của họ. Nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc có thể ảnh hưởng đến các quốc gia thành viên về mặt chính trị và do đó ảnh hưởng đến các lựa chọn về chính sách đối ngoại. Chẳng hạn như các khuyến nghị do Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đưa ra đã được Hoa Kỳ công nhận làm nguyên tắc đàm phán với Trung Quốc trong Chiến Tranh Triều quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc cũng có thể mang lại một số hiệu lực pháp lý… Một số học giả thậm chí còn coi các nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc là đại diện cho sự đồng thuận toàn cầu, có thể được coi là một yếu tố của luật tập quán quốc tế customary international law. Theo hướng này, nhiều nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã được trích dẫn tại các tòa án quốc tế... Đưa Biển Đông ra trước Đại Hội Đồng LHQ Có thể lợi bất cập hại Theo tác giả bài phân tích, chính vì những tác động tiềm tàng trên đây của một nghị quyết Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam phải cân nhắc khi đem vấn đề Biển Đông ra trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp cứ vào Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, rõ ràng là Việt Nam hoàn toàn có quyền đưa vấn đề Trung Quốc xâm lấn vùng biển của Việt Nam ra trước Đại Hội Đồng. Điều 11 và 14 của Hiến Chương quy định rằng chức năng chủ chốt của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc bao gồm việc thảo luận và ra khuyến nghị về những vấn đề có tác hại đến an ninh và hòa bình thế giới. Với thực tế là Biển Đông bao gồm các vùng biển quốc tế và quan trọng đối với hệ thống thương mại hàng hải toàn cầu, Việt Nam có thể dễ dàng lập luận rằng tình hình ở Biển Đông đã vượt quá phạm vi tranh chấp giữa một số quốc gia hay thậm chí xung đột khu vực và nên được coi là một vấn đề của hòa bình và an ninh quốc nhiên, hiện có những trở ngại nghiêm trọng khiến Việt Nam khó có thể đạt được một chiến thắng đáng kể nếu bạo dạn đưa vấn đề Biển Đông ra trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp khăn chủ yếu là làm sao vận động được đại đa số các thành viên Liên Hiệp Quốc ủng hộ mình. Đã đành là các cường quốc như Mỹ, Anh, Pháp, Đức đều đã bày tỏ thái độ quan ngại trước các hành động của Trung Quốc, nhưng hậu thuẫn này có thể không đủ để thông qua nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Nhiều nước còn ủng hộ Trung Quốc… Về phía Trung Quốc, số lượng các quốc gia trước đây từng ủng hộ quan điểm của Trung Quốc về Biển Đông không phải là ít. Ảnh hưởng của Trung Quốc trên các nước châu Phi phải được đặc biệt tính đến. Hơn nữa, Bắc Kinh dường như đang trong quá trình đàm phán với Malaysia và Philippines, và hai nước này có thể sẽ không muốn phá hỏng quan hệ hữu hảo với Trung Quốc. Kịch bản này khiến Việt Nam khó thuyết phục các nước khác trong Liên Hiệp Quốc, kể cả các nước láng giềng Biển Đông, nhiệt tình ủng hộ mình tại Đại Hội năm 2014, khi Trung Quốc triển khai giàn khoan HD-981 sâu trong thềm lục địa của Việt Nam, sự kiện này đã chiếm lĩnh tựa lớn trên báo chí quốc tế, và thu hút sự chú ý của toàn thế giới. Lần này, tình thế đã khác đi, hành động của Trung Quốc đã không làm dấy lên những phản ứng quốc tế tương tự. Trong tình hình đó, theo chuyên gia Phạm Ngọc Minh Trang, khả năng Việt Nam thắng lớn tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc vào thời điểm này khá xa việc một nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc về Biển Đông sẽ có một tác động chính trị và pháp lý sâu sắc, Việt Nam nên giữ khả năng này trong danh sách các chiến lược khả thi, nhưng cần thực hiện một số bước sơ bộ để huy động hậu thuẫn quốc tế và tăng cơ hội thành công. Theo tác giả bài viết, một tuyên bố của các nước ASEAN hoặc của toàn khối ASEAN chẳng hạn, bày tỏ quan ngại về tình hình ở Biển Đông, có thể khiến vấn đề được thông suốt hơn tại các cuộc họp của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Một tuyên bố chung được Việt Nam và các quốc gia có quan tâm đến Biển Đông như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ấn Độ và Nhật Bản cùng soạn thảo và ký kết cũng có thể giúp ích cho Việt cả hai trường hợp trên, Hà Nội phải đóng vai trò tích cực và áp dụng một chiến thuật ngoại giao khéo lại, đưa vấn đề về Biển Đông ra trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc sẽ không chỉ đòi hỏi một chiến lược tỉ mỉ, mà còn cần đến rất nhiều nỗ lực và thời gian. Hiện tại, khả năng thành công có lẽ không đủ cao để Việt Nam chấp nhận rủi ro. Nhưng với một công cuộc vận động thích hợp, một nghị quyết Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc vẫn là một lựa chọn có giá trị cho các nước nhỏ như Việt Nam, đang tìm cách kháng cự lại Trung Quốc ở Biển Đông. Theo bản tin từ Hoàn cầu Thời báo hôm 6 tháng 7 năm 2021, tàu nghiên cứu mới nhất và lớn nhất của Trung Quốc có tên “Đại học Tôn Trung Sơn” sẽ đến quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam trong tháng 10 tới để thúc đẩy thăm dò các vùng biển giàu tài nguyên; nghiên cứu “hơi nước của ranh giới phía tây của Biển Đông cũng như các vùng biển lân cận nhằm cung cấp hỗ trợ khoa học cho việc phòng chống thiên tai”. Con tàu được coi là phòng thí nghiệm di động cỡ lớn trên biển này dài 113m, rộng hơn 19m được đóng tại nhà máy đóng tàu Giang Nam - Thượng Hải và mới được bàn giao cho các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học Tôn Trung Sơn vào tháng trước. Tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 8 tháng 7 năm 2021, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước thông tin Trung Quốc sắp đưa tàu nghiên cứu khổng lồ đến Hoàng Sa, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng tuyên bố “Mọi hoạt động thăm dò, khảo sát và nghiên cứu khoa học tại quần đảo Hoàng Sa mà không được sự cho phép của Việt Nam là xâm phạm chủ quyền và các quyền liên quan của Việt Nam, là bất hợp pháp và vô giá trị”. Chuyện phát ngôn của Bộ ngoại giao Việt Nam so với thực tế ngoài Biển Đông thì ai cũng lấy làm lạ là Việt Nam luôn luôn bị gò ép, luôn luôn bị ăn hiếp, bị lấn áp nhưng tại sao người phát ngôn chỉ có một cách là phản đối miệng, còn hành động quân sự, chiến lược quốc phòng như thế nào thì người dân rất mù mờ. - Nhà nghiên cứu Biển Đông Đinh Kim Phúc Theo nhận định của nhà nghiên cứu Biển Đông Đinh Kim Phúc, mỗi lần Trung Quốc gây hấn trên Biển Đông là Việt Nam chỉ có phản đối miệng, ngoài ra không có hành động phản kháng nào khác. Ông nói “Chuyện phát ngôn của Bộ ngoại giao Việt Nam so với thực tế ngoài Biển Đông thì ai cũng lấy làm lạ là Việt Nam luôn luôn bị gò ép, luôn luôn bị ăn hiếp, bị lấn áp nhưng tại sao người phát ngôn chỉ có một cách là phản đối miệng, còn hành động quân sự, chiến lược quốc phòng như thế nào thì người dân rất mù mờ. Chưa bao giờ có ai nói một cách công khai là Việt Nam sẵn sàng đối phó với Trung Quốc. Việt Nam chỉ nói có đủ quyết tâm, đủ tiềm lực để đánh bại mọi âm mưu xâm lược một cách chung chung. Ai xâm lược Việt Nam thì cũng không biết!” Có giải thích rằng, cách phản ứng của Việt Nam là để giữ vững quan hệ hữu hảo, không cho Trung Quốc cơ hội vin vào bất cứ cớ nào gia tăng tình hình căng thẳng trên Biển Đông. Trong khi đó, Việt Nam vẫn âm thầm chuẩn bị lực lượng quân sự và quốc phòng để sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu xâm lược. Cũng có nhiều người đánh giá, Việt Nam không thể làm gì khác vì phụ thuộc quá nặng vào Trung Quốc cả chính trị lẫn kinh tế. Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia Úc về Việt Nam và vấn đề Biển Đông phân tích thêm với RFA qua email “Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc phản đối và bác bỏ việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, khi Trung Quốc cử một tàu nghiên cứu tiến hành các hoạt động. Nếu Việt Nam im lặng, sau này Trung Quốc có thể lập luận rằng Việt Nam đã chấp nhận các yêu sách về “chủ quyền không thể tranh cãi” trên Biển Đông bao gồm cả Hoàng Sa. Thay vào đó, Việt Nam có thể trình một bản ghi nhớ bổ sung aide-memoir, ghi chú bằng lời nói hoặc công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội. Nếu vấn đề được coi là rất nghiêm trọng, Việt Nam nên yêu cầu Đại sứ tại Bắc Kinh phản đối chính thức với Bộ Ngoại giao nước này.” Cũng liên quan Hoàng Sa, mới tháng trước, Tân Hoa Xã đưa tin chính quyền tỉnh Hải Nam, Trung Quốc đã triển khai dự án gắn thẻ tên nhằm ghi nhận các loài thực vật ở hơn 10 đảo và cấu trúc thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Đến nay, 500 loài thực vật đã được gắn tên. Tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 24 tháng 6 năm 2021, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng lại tuyên bố “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa phù hợp với luật pháp quốc tế. Các hành vi dưới mọi hình thức vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đều vô giá trị, không được công nhận”. Trong khi Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối các hành động của Trung Quốc trên Biển Đông, thì trên đất liền, lãnh đạo cao cấp của Việt Nam lại ca ngợi 100 năm đảng cộng sản Trung Quốc; ca ngợi thành tựu 70 năm của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa… Ông Đinh Kim Phúc đặt câu hỏi về cách hành xử của giới lãnh đạo Việt Nam “Vậy đối ngoại cấp cao giữa hai nước là gì, những thỏa thuận cấp cao giữa hai đảng, hai Nhà nước là gì? Không ai biết. Phản ứng của Việt Nam như thế có phản ánh được quyết tâm của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo hay không, hay vấn đề này nó nằm một phần trong chiến lược quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam và Trung Quốc? Cách trả lời của Bộ Ngoại giao Việt Nam từ năm này đến năm khác làm cho người dân không biết sự thật, không rõ được quyết tâm bảo vệ tổ quốc của lãnh đạo Việt Nam như thế nào!” Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc phản đối và bác bỏ việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền của đối với quần đảo Hoàng Sa bằng cách Trung Quốc cử một tàu nghiên cứu tiến hành các hoạt động. Nếu Việt Nam im lặng, sau này Trung Quốc có thể lập luận rằng Việt Nam đã chấp nhận các yêu sách về “chủ quyền không thể tranh cãi” trên Biển Đông bao gồm cả Hoàng Sa. - Carl Thayer Trung Quốc từ rất lâu đã có tham vọng độc chiếm Biển Đông với “Đường lưỡi bò” tự vẽ bao trọn 75% diện tích mặt nước của Biển Đông. Đường lưỡi bò xuất hiện lần đầu tiên trong bản đồ Trung Quốc vào năm 1948 với tên gọi “Đường mười một đoạn”. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau khi thành lập năm 1949 vẫn tự xác định lãnh thổ trên Biển Đông theo đường mười một đoạn này. Đến năm 1953 thì bỏ hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ, trở thành “Đường chín đoạn”. Ngày 12 tháng 7 năm 2016, Toà Trọng tài ra phán quyết tuyên bố chủ quyền “Đường lưỡi bò” mà Trung Quốc gọi là “quyền lịch sử” là trái ngược với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển; Trung Quốc không có bất kỳ cơ sở pháp lý nào để tuyên bố quyền lịch sử đối với những tài nguyên biển trong đường chín đoạn này. Trung Quốc bác bỏ phán quyết của tòa án. Trong thông cáo ra cùng ngày, Bộ Quốc phòng Trung Quốc khẳng định phán quyết này không ảnh hưởng đến chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Phái đoàn Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc hôm 2 tháng 6 năm 2020 đã gởi công hàm cho Tổng thư ký Antonio Guterres, nhấn mạnh rằng Bắc Kinh phải tuân thủ phán quyết La Haye năm 2016. Hoa Kỳ đồng thời yêu cầu cho lưu hành công hàm này cho tất cả các quốc gia thành viên như tài liệu chính thức của Đại hội đồng. Những cuộc xâm lược thời phong kiến là những cuộc xâm lược được nhận diện bằng con người - vó ngựa - và vũ khí. Trong một thời điểm nào đó, ở một bối cảnh nào đó của lịch sử, rất có thể sẽ diễn ra những cuộc xâm lấn khó nhận diện hơn. Thành thử, bài học xương máu sau mấy ngàn năm đó là phải luôn luôn xây dựng tinh thần đại đoàn kết và nội lực quốc gia. Những dòng lịch sử chiến tranh Xung đột xã hội nửa đầu thế kỷ XIX Những dòng lịch sử chiến tranh Thuở nhỏ đi học, tất cả chúng ta đều nằm lòng một mệnh đề trong mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã chiến thắng rất nhiều cuộc chiến tranh, chủ yếu đến từ phương Bắc. Lớn lên, một mặt chúng ta tiếp tục tự hào với mệnh đề lịch sử quen thuộc và đầy tính truyền thống đó nhưng mặt khác, trong một khoảnh khắc nào đó, có thể chúng ta sẽ đặt ra một câu hỏi, để truy tìm một khía cạnh khác của vấn đề Tại sao Việt Nam lại chịu nhiều cuộc chiến tranh đến vậy? Thời Xuân Thu - Chiến Quốc xa xưa, người Trung Hoa đã tự chia thiên hạ thành 5 phương, trong đó Trung Hoa là trung tâm, ở chính giữa và 4 phương còn lại lần lượt được định danh là Bắc địch - Tây nhung - Đông di - Nam man. Trong chiến lược này, họ coi dân tộc Mông Cổ ở phía Bắc là một đối thủ thiện chiến, nên thực hiện một giải pháp lịch sử là phòng ngự và chống đỡ. Phía Tây là những dân tộc hoang dã nên phải có một chính sách đặc biệt để "đối ngoại". Phía Đông là những dân tộc mà họ muốn áp đặt sự ảnh hưởng của mình, cả về mặt chính trị và văn hóa. Và đặc biệt các dân tộc ở phía nam sông Dương Tử, họ coi là "man di", nên tự cho mình cái quyền đem quân xuống khai hóa. Như vậy có nghĩa, tiến về phía Nam để thực hiện cái gọi là "khai hóa văn minh" nhưng sau đó là âm mưu xâm lược trở thành chiến lược lớn, xuyên suốt các triều đại phong kiến phương Bắc. Và có thể coi đấy là một lý do khách quan khiến dân tộc Việt Nam phải chịu rất nhiều cuộc chiến tranh từ phương Bắc. Tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng có thể dễ dàng thực hiện cái chiến lược mang tính xuyên suốt đó. Nếu nhìn lại những thời điểm phương Bắc "xuất binh", chúng ta có thể nhìn ra một quy luật mang tính tương đối nào đó, để từ đó rút ra những bài học xương máu cho mình. Có thể khám phá quy luật này từ những biến động bang giao ở đầu thế kỷ X - những biến động mang tính nền móng, chính thức mở ra một giai đoạn độc lập, tự chủ vững bền của dân tộc. Đó là giai đoạn mà Khúc Thừa Dụ - một hào phú ở vùng Hải Dương ngày nay lật đổ quan lại nhà Đường để trở thành Tiết độ sứ Giao Châu miền Bắc Việt Nam bây giờ và liên tiếp truyền lại vị thế này cho con mình là Khúc Hạo và cháu mình là Khúc Thừa Mỹ. Hàng loạt biến động chính trị xuất hiện từ đây Vua Nam Hán sai tướng là Lý Khắc Chính sang đánh và bắt sống Khúc Thừa Mỹ. Một viên tướng của Khúc Hạo trước đây là Dương Đình Nghệ liền kéo quân đánh đuổi Lý Tiến, tự xưng là Tiết độ sứ. Tranh minh họa trận chiến trên sông Bạch Đằng. Ảnh Nhưng rồi thuộc cấp của Dương Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn làm phản, giết chết Dương Đình Nghệ. Thế là một vị tướng của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền cất binh, báo thù cho chúa. Tới lúc này thì Kiều Công Tiễn làm một động tác mà sau này đã lặp đi lặp lại trong lịch sử, đó là chạy sang cầu cứu nhà Nam Hán. Kết cục của màn "cầu cứu" này ra sao thì tất cả chúng ta đều biết Kiều Công Tiễn bị Ngô Quyền giết chết khi quân Nam Hán còn chưa kịp sang và sau đó thì hàng vạn quân Nam Hán bị Ngô Quyền đánh dẹp trên sông Bạch Đằng. Kết luận rút ra sau hàng loạt biến động này chính là quân Nam Hán chỉ kéo quân vào khi Kiều Công Tiễn "cầu cứu", nghĩa là khi trong nước đang nội loạn, các phe phái đang không ngừng đánh dẹp lẫn nhau. Trong cách mô tả của những dòng bút sử phong kiến, chúng ta thấy rằng phe phái có chính nghĩa Ngô Quyền đã giành chiến thắng và phe phái muốn dựa vào ngoại bang để củng cố quyền lực bên trong của mình Kiều Công Tiễn đã thất bại. Nếu câu chuyện ở đầu thế kỷ thứ X, với những dích dắc liên hệ giữa Khúc Thừa Mỹ - Dương Đình Nghệ - Kiều Công Tiễn - Ngô Quyền có thể tạm nhìn nhận một cách giản lược như vậy thì đến cuối thế kỷ X, cuộc chuyển giao triều chính từ nhà Đinh sang nhà tiền Lê, gắn liền với cuộc xâm lược của nhà Tống lại phức tạp hơn nhiều. Trong câu chuyện này, chúng ta vẫn nghe những điều rất quen tai rằng, hai cha con vua Đinh Bộ Lĩnh bị ám sát, Đinh Toàn 6 tuổi lên ngôi trong bối cảnh nhà Tống chuẩn bị "xuất binh", không còn cách nào khác, thái hậu Dương Vân Nga khoác áo long bào lên vai Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, một động tác chính trị mềm dẻo để chuyển ngôi từ nhà Đinh sang nhà tiền Lê, để cả nước có thể yên tâm đánh giặc. Tuy nhiên, hậu thế có quyền đặt ra câu hỏi Nếu cha con vua Đinh không bị ám sát hoặc nếu sau khi hai cha con bị ám sát, ngôi vua vẫn thuộc về nhà Đinh chứ không phải được chuyển cho Lê Hoàn thì nhà Tống có xâm lược hay không? Đã có những nguồn tư liệu nghi ngờ rằng, phải chăng chính thái hậu Dương Vân Nga đã cấu kết với Lê Hoàn ám sát hai cha con vua Đinh? Và khi hai cha con vua Đinh nằm xuống, người được kế vị còn quá nhỏ, quyền lực nằm hết trong tay Lê Hoàn thì đã có những đại thần nhà Đinh phản ứng, điển hình nhất là việc Đinh Điền và Nguyễn Bặc đã mang quân đánh lại Lê Hoàn nhưng sau đó thất bại. Tức là, trong cuộc chuyển ngôi Đinh - Lê, nội bộ triều chính lúc đó mâu thuẫn và nội bộ đất nước không vững mạnh. Thế nên mới có chuyện, Lê Hoàn lên ngôi, nhà Tống liền cử sứ sang trách phạt "Nhà Đinh truyền tập đã ba đời, vậy cho Đinh Toàn làm thống soái, Lê Hoàn làm phó. Nhược bằng Đinh Toàn còn trẻ tuổi không làm được, Lê Hoàn phải bắt mẹ con Đinh Toàn sang chầu Bắc Triều...". Chắc chắn Lê Hoàn không thể chấp nhận lời đề nghị vô lối này và dường như chỉ chờ có thế, nhà Tống lập tức đem quân sang đánh. Trong câu chuyện này, một lần nữa chúng ta thấy rằng nhà Tống chỉ có cớ xâm lược khi nội bộ Đinh - Lê đã diễn ra quá nhiều vấn đề trầm trọng. Và lịch sử cứ thế lặp lại trong cuộc chuyển ngôi từ nhà Trần sang nhà Hồ ở đầu thế kỷ XV. Khi Hồ Quý Ly chính thức soán ngôi của cháu ngoại mình là Trần Thiếu Đế, chuyển ngôi từ nhà Trần sang nhà Hồ thì lập tức nhà Minh phương Bắc cử sứ sang trách phạt. Thêm vào đó, nhà Minh một mặt đòi cha con Hồ Quý Ly phải cống nạp đất đai biên giới, một mặt chủ động bắt giữ mọi sứ thần nhà Hồ được cử sang. Và đỉnh điểm của màn sách nhiễu là việc nhà Minh dựng lên một nhân vật là Trần Thiêm Bình, người được họ coi là hậu duệ của vua Trần, rồi đề nghị đưa Trần Thiêm Bình lấy lại quyền lực nhà Trần. Nhiều nguồn sử nói rằng Trần Thiêm Bình thực chất chỉ là gia nô của vua Trần trước đây, cho nên phía sau chiêu bài Trần Thiêm Bình là một âm mưu nham hiểm. Dĩ nhiên, cha con Hồ Quý Ly hiểu âm mưu ấy nên đoàn người đưa Trần Thiêm Bình vừa sang biên giới đã bị Hồ Quý Ly cho người đánh giết. Dường như chỉ đợi có thế, nhà Minh lập tức xua quân xâm lược, giương ngọn cờ "Phù Trần diệt Hồ" để mị dân. Lịch sử đã nói rất rõ với chúng ta rằng, sau khi dễ dàng đánh dẹp cha con họ Hồ, nhà Minh không hề "phù Trần" như mình rêu rao mà đã tìm mọi cách để biến Đại Việt trở thành một quận huyện của phương Bắc như trước thế kỷ X. Một trong những cách tàn bạo nhất và khủng khiếp nhất mà giặc Minh đã làm là đốt sạch sách vở, di cảo giá trị của tổ tiên người Việt - khiến con cháu người Việt mãi sau này bị đứt đoạn văn hóa với tiền nhân. Nhìn lại cái cách nhà Minh xua quân xâm lược trong bối cảnh chuyển giao Trần - Hồ, một lần nữa chúng ta lại thấy rõ thêm cái quy luật nội bộ quốc gia lủng củng, phương Bắc tức thì mượn cớ xâm lăng. Nếu phải chỉ thêm một ví dụ nữa cho "quy luật lịch sử" này thì đó là những điều đã diễn ra cuối thời Lê - Trịnh, khi ông vua Lê Chiêu Thống muốn khôi phục lại quyền lực thực tế vốn đã nằm trong tay chúa Trịnh bằng cách cầu cứu Bắc triều. Khi ấy Lê Chiêu Thống ém quân ở vùng Lạng Giang gần Trung Quốc, bà hoàng thái hậu nhà Lê đem luôn cả công tử nhà Lê chạy sang kêu xin Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị. Ngay lập tức Tôn Sĩ Nghị dâng biểu lên vua Càn Long nhà Thanh, bày tỏ quan điểm nếu đem quân vào đất Việt vừa để cứu nhà Lê vừa để áp đặt trở lại vùng đất này thì chẳng khác gì một công đôi việc. Và thế là Tôn Sĩ Nghị dễ dàng, thuận tiến một mạch vào Thăng Long. Điểm lại tất cả những câu chuyện trên đây, chúng ta thấy rằng trong những lúc ngặt nghèo, đau thương nhất của dân tộc thì may mắn thay và tự hào thay luôn có một người anh hùng kiệt xuất nổi lên. Kiều Công Tiễn cầu viện nhà Nam Hán thì dân tộc lại nổi lên người anh hùng Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán; cuộc chuyển giao từ nhà Trần sang nhà Hồ là cái cớ cho nhà Minh xâm lược thì sau đó lại xuất hiện người anh hùng Lê Lợi đánh bại quân Minh. Đến khi Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh với hy vọng trong ảo vọng rằng có thể khôi phục lại quyền lực vốn có của dòng họ thì trên bầu trời lịch sử lại lừng lững xuất hiện một Quang Trung đại phá quân Thanh trong chớp mắt. Tuy nhiên, một bài học khác, quan trọng không kém cần phải được rút ra chính là trước khi xuất hiện những người anh hùng dân tộc thì trong lòng dân tộc đã diễn ra những cuộc binh biến, nội loạn và chính những thời điểm mà trong lòng dân tộc binh biến, nội loạn - khi mà nội lực dân tộc bị suy yếu hơn bao giờ hết thì phương Bắc đã không bỏ lỡ cơ hội xuất binh xâm lược. Những cuộc xâm lược thời phong kiến là những cuộc xâm lược được nhận diện bằng con người - vó ngựa - và vũ khí. Trong một thời điểm nào đó, ở một bối cảnh nào đó của lịch sử, rất có thể sẽ diễn ra những cuộc xâm lấn khó nhận diện hơn. Thành thử, bài học xương máu sau mấy ngàn năm đó là phải luôn luôn xây dựng tinh thần đại đoàn kết và nội lực quốc gia. Một khi chắc chắn đảm bảo được hai yếu tố đoàn kết và nội lực thì không một kẻ thù nguy hiểm nào có thể khiến dân tộc này nao núng!

tại sao việt nam luôn bị xâm lược